domain, domain name, premium domain name for sales
Showing posts with label Kiến thức cơ bản. Show all posts
Showing posts with label Kiến thức cơ bản. Show all posts

Wednesday, June 6, 2012

Quy trình thiết kế "trọn gói" của một chiếc xe hơi

Quá trình thiết kế một chiếc xe hơi thường kéo dài khoảng 3 năm.
Quá trình thiết kế bắt đầu từ ý tưởng phác thảo trên giấy đến khi chiếc xe xuất hiện một cách hào nhoáng tại phòng trưng bày thường kéo dài khoảng 3 năm.
Trong suốt quá trình đó, có rất nhiều thay đổi, thậm chí hàng trăm bản thiết kế đã bị ném đi không thương tiếc. Tuy nhiên, quãng thời gian 3 năm không phải là con số cố định. Một số thiết kế mất nhiều thời gian hơn thế. Thế nhưng, nhìn chung, quá trình thiết kế thường có những bước cơ bản như dưới đây.
Vẽ/phác thảo đối tượng


Những bản phác thảo như trên rất có thể là tiền thân của các mẫu xe đình đám tương lai.
Khi có ý tưởng, nhà thiết kế cần phải bắt đầu ngay bằng một hoặc hàng loạt các bản phác thảo. Người thiết kế có thể lấy cảm hứng từ phim ảnh, báo chí, sách vở hoặc bất kì nguồn tham khảo nào. Miễn là sẽ có một điều gì đó lóe lên trong đầu, thôi thúc họ cầm bút và đưa ra các đường nét quyến rũ. Những ý tưởng có thể đến bất cứ lúc nào, trong studio, phòng làm việc hay thậm chí… ngoài đường. Theo thống kê, mỗi năm có tới hàng ngàn mẫu thiết kế được nộp cho các nhà sản xuất ôtô. Trong hàng ngàn thiết kế, đó thì chỉ có một hoặc hai mẫu may mắn được lựa chọn để hiện thực hóa.

"Gói gọn" thiết kế
Như chúng ta vẫn thấy, các thiết kế trên giấy ban đầu thường rất bay bổng. Muốn thiết kế trở thành một sản phẩm thực tế thì việc tiếp theo cần làm là “gói gọn” những ý tưởng bay bổng đó lại trong một hình mẫu tương đối, dựa trên các mẫu động cơ sẵn có của hãng xe cụ thể, bố trí cơ cấu truyền động và nhiều yêu cầu an toàn khác. Đối với các nhà thiết kế, quá trình này chính là giai đoạn họ phải đấu tranh thực sự trong việc thỏa hiệp giữa sáng tạo nghệ thuật và tính ứng dụng trong thực tế. Tuy chiếc xe vẫn còn trên giấy nhưng sẽ được thay đổi, chi tiết hóa và tái cấu trúc cho đến khi đáp ứng được tất cả các yêu cầu về kỹ thuật nói chung.

Cụ thể hóa đối tượng dưới dạng mô hình đất sét
Tại thời điểm này, các bản vẽ hai chiều trên giấy được chuyển đổi thành mô hình 3 chiều thông qua các phần mềm của máy tính. Nhờ đó, ta không chỉ hình dung được hình hài cơ bản mà còn nhìn nhận chi tiết các kích thước và cấu trúc vật lý của chiếc xe ý tưởng. Ngay sau đó, các bản vẽ và hình chiếu được sử dụng để dựng lên một mô hình vật lý của mẫu xe dưới dạng đất sét. Các công cụ hiện đại ngày nay như máy in 3-D tuy có thể đảm nhiệm công việc này nhưng dường như cách thức xây dựng đối tượng bằng đất sét truyền thống vẫn là lựa chọn tối ưu.

 Các kỹ sư làm việc miệt mài với mô hình đất sét.
thường thường, không phải chỉ một mẫu trên giấy được lựa chọn nên sẽ có nhiều hơn một mô hình dạng đất sét được dựng lên. Tuy nhiên, đó không phải là mô hình đất sét với kích thước thực 1:1 mà chỉ là mẫu thu nhỏ nhằm tiết kiệm thời gian. Một mẫu sẽ được dựng lên với kích thước thực chỉ khi được lựa chọn cuối cùng và lúc các nhà thiết kế hay các kỹ sư muốn có một hình dung thật chính xác về đối tượng họ sắp đưa vào sản xuất.

Mô hình đầy đủ
Mô hình xe đến thời điểm này vẫn có thể là đất sét nhưng một số chi tiết đã được làm bằng polyme hay các vật liệu tổng hợp khác để cắt giảm trọng lượng. Ngày nay, các kỹ sư có thể thay thế đất sét bằng các loại vật liệu khác vừa đảm bảo hiệu quả lại tăng thêm tính chân thực cho nguyên mẫu. Sau khi được hoàn thành, nguyên mẫu kích thước thực sẽ trông giống như một chiếc xe thông thường và được chụp ảnh để đưa ra quảng bá rộng rãi với công chúng.
Phác thảo và lên mô hình nội thất xe


Nội thất chiếc Renault Laguna thủa còn là “đất sét”.
Thường thì nội thất của chiếc xe đã được nhà thiết kế phác thảo ngay từ ban đầu. So với diện mạo bên ngoài, quá trình thiết kế nội thất chiếc xe sẽ trải qua thêm một vài bước nữa sao cho hài hòa và tương xứng. Các phác thảo trên giấy sẽ được chuyển thành bản vẽ CAD và sau đó cũng được dựng dưới dạng nguyên mẫu đất sét. Sẽ có 3 hoặc 4 nguyên mẫu khác nhau được đưa ra để lựa chọn. Diện mạo cũng như tất cả các chi tiết từ vô lăng tới chỗ ngồi và giao diện điều khiển sẽ được lên chi tiết ở công đoạn này.

Lựa chọn vật liệu, màu sắc...
Sau khi nguyên mẫu ngoại - nội thất cuối cùng được lựa chọn, nhà thiết kế sẽ có hàng trăm, thậm chí hàng nghìn, chi tiết nhỏ để sơn màu, trang trí, lựa chọn chất liệu... Thông thường, sẽ có một nhóm sẵn sàng săn lùng tất cả các vật liệu trên toàn thế giới để ứng dụng một cách hiệu quả nhất vào mẫu thiết kế mới của họ.

Lên chi tiết cho bảng táp-lô và vô lăng
Cùng với việc lựa chọn màu sơn, vật liệu và trang trí các phụ kiện, mô hình chi tiết nội thất bên trong xe cũng được điều chỉnh, chọn lọc. Đây là lúc hình thành một cách chi tiết bảng táp-lô và vô lăng xe. Bảng táp-lô và vô lăng gần như là linh hồn, cầu nối giữa người lái và chiếc xe, vì vậy thiết kế chúng không hề đơn giản. Nguyên lý công thái học được áp dụng triệt để sao cho có một một thiết kế tối ưu.

Thử nghiệm và sàng lọc các vật liệu đã được lựa chọn
Mỗi vật liệu hay màu sơn được lựa chọn không những cần đạt yếu tố thẩm mỹ mà còn phải bền màu với thời gian và không quá dễ nứt vỡ trong các cuộc kiểm tra về độ bền. Các cuộc kiểm tra được tiến hành trong điều kiện khắc nghiệt như nóng và lạnh, ánh sáng mặt trời trực tiếp, tiếp xúc với tay chân con người… sẽ cho biết khả năng chống chịu của vật liệu khi sử dụng hàng ngày. Tuy chỉ diễn ra trong phòng thí nghiệm nhưng các tác nhân sẽ được mô phỏng như thật. Ví dụ như đèn nhiệt tạo môi trường ánh nắng, bàn tay robot đóng vai trò tác nhân con người không ngừng tiếp xúc và cọ sát, trời mưa, tuyết rơi nhân tạo, nước nóng và nước lạnh được xả trực tiếp vào với cường độ ngày càng tăng... Nếu vượt qua tất cả, vật liệu và màu sắc được lựa chọn. Ngược lại, các nhà thiết kế sẽ phải chọn vật liệu và màu sắc khác.

Quá trình mô phỏng cuối cùng
Đến thời điểm này, nội và ngoại thất của chiếc xe vẫn là 2 phần thiết kế rời nhau. Các nhà thiết kế và kỹ sư có thể nhìn vào mô hình vật lý của chiếc xe để có cảm nhận tổng quát nhất về cả nội thất lẫn ngoại thất. Đây là lúc khái niệm "xe concept” được hình thành vì đã là một nguyên mẫu dạng vật lý. Người kỹ sư lúc này phải rất nghiêm túc đánh giá để có thể ra quyết định có tiến hàng sản xuất nguyên mẫu thiết kế hay không.

Mô hình được phê duyệt
Hội đồng quản trị của công ty quyết định tương lai của mỗi thiết kế. Đây là thời điểm mà quá trình tiếp thị được chú trọng. Nếu chiếc xe được chấp thuận, hình ảnh của nó sẽ được quảng bá một cách chính thức. Thông thường, các ý tưởng không bao giờ chỉ dừng lại ở một nguyên mẫu. Thay vào đó, chúng sẽ được sử dụng cho các mục đích kinh doanh tiếp thị và đi xa hơn nữa. Một số nguyên mẫu xe ý tưởng sẽ được dựng thủ công cùng một lúc để nhà sản xuất sử dụng với mục đích quảng bá hình ảnh trong các sự kiện hay triển lãm ôtô. Một số mẫu chỉ ở dạng mô hình trượt mà không có hệ dẫn động sẽ được giới thiệu song song.
Xe đi vào sản xuất

CS Concept, mẫu xe ý tưởng trứ danh của BMW.
Các kỹ sư có chuyên môn trong nhà máy sẽ đảm nhiệm khâu điều chỉnh cuối cùng trên chiếc xe thiết kế để tối ưu hóa khi đưa vào sản xuất hàng loạt. Những thay đổi thường tập trung vào việc giải quyết các lựa chọn khi đặt cạnh nhau. Quá trình hoàn thiện sản phẩm cuối cùng sẽ là lên kế hoạch và tiến độ trong một khoảng thời gian cụ thể. Các chi tiết khác như giấy tờ thông số kỹ thuật và thông tin dành cho nhà máy sản xuất trong mỗi dây chuyền, yêu cầu kiểm tra chiếc xe lần đầu tiên khi hoàn thiện…đều được thực hiện.
Trong suốt quá trình, ý tưởng ban đầu và chiếc xe cuối cùng được sản xuất thường khác nhau rất nhiều. Từ những đường nét bay bổng trong thiết kế của bản vẽ giấy, chiếc xe đã được kiên cố hóa để đưa vào thực tế và sẵn sàng đến tay người tiêu dùng.

 Mỗi chiếc xe hoàn thiện là thành quả của cả một quá trình lao động
 và sáng tạo nghệ thuật miệt mài.
Hầu hết các nhà sản xuất đều áp dụng mô hình "mạch tái thiết " mỗi chu kỳ từ 4-6 năm. Có nghĩa là họ sẽ tiến hành một lượt cải tiến và nâng cấp tổng thể về diện mạo cũng như công nghệ máy móc sau khoảng thời gian 4-6 năm một lần. Phương sai của con số đó thường được thay đổi tùy thuộc vào tình trạng doanh số bán hàng, sự thay đổi của phân khúc thị trường hay kế hoạch tiếp thị sản phẩm của mỗi hãng xe.
Tổng hợp

Monday, May 28, 2012

Hệ thống xả - Đông cơ xăng

Hệ thống xả sẽ thải khí xả do động cơ tạo ra vào khí quyển.
Hệ thống xả bao gồm: cụm ống dẫn khí thải, cảm biến ô xy, bộ chuyển đổi xúc tác, bộ phận giảm thanh và ống thoát khí thải.

Cụm ống dẫn khí thải: Được lắp nối tiếp với xy-lanh, dẫn khí thải từ mỗi xy-lanh vào đường ống chung. Cụm ống này có thể được làm bằng thép không rỉ, nhôm, hoặc một số kim loại đúc.

 


Bộ cảm biến ô xy: Tất cả động cơ xăng đều sử dụng cảm biến ô xy để xác định lượng dư không khí trong khí xả. Từ đó, máy có thể biết được cần thêm hay bớt lượng ô xy (không khí) trong khí nạp, để tiết kiệm nhiên liệu cho xe. Bộ cảm biến ô xy được đặt bên trong cụm ống dẫn khí xả ngay cạnh ống.

Bộ chuyển đổi dùng xúc tác: được sử dụng để chuyển lượng khí CO và Hidrocacbon thành khí CO2 và hơi nước. Một số bộ chuyển đổi khác còn có khả năng chuyển đổi NOx độc hại thành Ni tơ phân tử. Bộ chuyển đổi này được cố định giữa cụm ống xả và bộ phận giảm thanh.


Bộ phận giảm thanh: Quá trình nổ của động cơ tạo ra rất nhiều tiếng ồn, đặc biệt là động cơ diesel do tỉ số nén cao. Phần lớn các bộ phận giảm thanh ngày nay sử dụng vách cản và hấp thụ âm. Một số hệ thống giảm thanh còn sử dụng sợi thủy tinh nhằm hấp thụ âm thanh ồn.
 
Nó có các chức năng sau:
  • Cải thiện hiệu quả của động cơ bằng cách nâng cao tính năng thải của khí xả ra khỏi động cơ.
  • Làm sạch khí xả bằng cách loại bỏ những chất có hại.
  • Giảm âm thanh của tiếng nổ do khí xả phát ra.

 
1 Đường ống xả 
2 TWC (Bộ lọc khí xả 3 thành phần)
3  Ống xả 
4 Ống giảm thanh

Bộ Trung Hoà Khí Xả

Bộ trung hoà khí xả được đặt ở giữa hệ thống xả để loại bỏ những chất độc hại ra khỏi khí xả.
Những chất độc hại trong khí xả bao gồm: CO (ôxít carbon), HC (hydrocarbon) và NOx (các ôxít Nitơ).
Có hai loại bộ trung hoà khí xả:

 1.
OC (Bộ trung hoà ôxy hoá) nó làm sạch CO và HC trong khí xả bằng chất xúc tác platinum và palladium.
2.
TWC (Bộ trung hoà khí xả 3 thành phần) nó làm sạch CO, HC và NOx trong khí xả bằng chất xúc tác platinum và rhodium.


 

A Bộ trung hoà khí xả loại liền khối
1 Vỏ ngoài
2 Lưới dây kim loại
3 Khối chất xúc tác
 
Ống Giảm Thanh


 

Do khí xả được xả ra từ động cơ có áp suất và nhiệt độ cao, chúng tạo ra tiếng nổ lớn nếu được xả trực tiếp.
Do đó, ống giảm thanh được sử dụng để giảm âm thanh bằng cách giảm áp suất và nhiệt độ của khí xả. 


Nguồn : oto-hui.com (Theo nguồn từ tài liệu đào tạo toyota) 

Hệ thống làm mát - Động cơ xăng

Hệ thống lám mát điều khiển nhiệt độ động cơ đến giá trị tối ưu (80 đến 90OC theo nhiệt độ nước làm mát) bằng cách tuần hoàn nước làm mát khắp trong động cơ.








Quạt làm mát sẽ làm nguội nước làm mát trong két nước và bơm nước sẽ tuần hoàn nước làm mát qua nắp quy lát và thân máy. 



1 Két nước

2 Bình chứa
3 Nắp két nước
4 Quạt làm mát
5 Bơm nước
6 Van hằng nhiệt

Dòng chảy nước làm mát


 
Lực đẩy của bơm nước làm cho nước làm mát tuần hoàn trong mạch nước làm mát. Nước làm mát hấp thụ nhiệt từ động cơ và phân tán vào không khí qua két nước. Nước làm mát đã được làm nguội sau đó quay trở về động cơ.  
Két Nước Làm Mát
Két nước làm nguội nước làm mát có nhiệt độ cao. Nước làm mát trong két nước trở nên nguội đi khi các ống và cánh tản nhiệt của nó tiếp xúc với luồng không khí tạo bới quạt làm mát và luồng không khí tạo ra bởi sự chuyền động của xe.



LƯU Ý:

Nồng độ LLC (nước làm mát có tuổi thọ cao) tối ưu được thiết lập ứng với nhiệt độ môi trường cụ thể ở từng quốc gia. Ngoài ra, LLC phải được thay thế định kỳ.
 
Nắp két nước
Nắp két nước có một van áp suất dùng để nén nước làm mát.
Nhiệt độ của nước làm ở áp suất cao tăng lên vượt quá 1000C, điều này tạo nên sự khác biệt lớn giữa nhiệt độ nước làm mát và nhiệt độ không khí. Kết quả là hiệu quả làm mát được cải thiện.
Van áp suất mở và đưa nước làm mát đến bình chứa khi áp suất két nước tăng lên. 


 
Van chân không mở để xả nước làm mát từ bình chứa khi áp suất cao két nước giảm xuống.
A Áp suất tăng lên trong quá trình tăng áp (nhiệt độ cao)
B Áp suất giảm đi trong quá trình giảm áp (nguội)
 
Quạt làm mát
Quạt này hướng lượng không khí lớn đến két nước nhằm nâng cao hiệu quả làm mát. 


 
A Hệ thống quạt làm mát chạy điện
Cảm nhận nhiệt độ nước làm mát và kích hoạt quạt chỉ khi nhiệt độ nước cao.
1 Khoá điện
2 Rơle
3 Quạt làm mát
4 Công tắc nhiệt độ nước


 
B Quạt làm mát có khớp chất lỏng
Được dẫn động bằng dây đai, và làm quay cánh quạt có một khớp chất lỏng chứa dầu silicon. Làm giảm tốc độ quay ở nhiệt độ thấp.
 
C Hệ thống quạt làm mát thuỷ lực điều khiển điện
Dẫn động quạt bằng môtơ thuỷ lực.
ECU điều khiển dầu thuỷ lực chảy đến môtơ. Điền khiển tốc độ quay của quạt để luôn duy trì lượng không khí thích hợp tiếp xúc với két nước.
1 Quạt làm mát
2 Khớp chất lỏng
3 Puly
4 Bơm nước
5 Môtơ thuỷ lực
6 Cảm biến nhiệt độ nước
7 Bơm thuỷ lực
Bình Chứa
Bình chứa được nối với két nước để lưu lượng nước làm mát tràn ra khỏi két nước và ngăn không cho nó chảy tràn ra ngoài.
Khi nhiệt độ nước làm mát trong két nước tăng lên, nó giãn nở và chảy vào bình chứa. Khi két nước nguội, nó hút nước trở lại két nước từ bình chứa. 



 
1 Bình chứa
2 Ống bình chứa
3 Két nước

Bơm Nước

Bơm này cung cấp nước làm mát vào trong mạch làm mát.

Một đai dẫn động được sử dụng để truyền chuyển động quay của trục khuỷu để dẫn động bơm nước. 



Van Hằng Nhiệt
Van hằng nhiệt là bộ phận dùng để hâm nóng động cơ nhanh chóng và điều khiển nhiệt độ của nước làm mát. Nó được đặt trong khoang giữa két nước và động cơ. Khi nhiệt độ nước làm mát trở nên cao, van đến két nước mở ra để làm nguội động cơ.
Có hai loại van hằng nhiệt:
Loại "có van đi tắt" cho loại đi tắt bên dưới, và "không có van đi tắt" cho loại đi tắt thẳng hàng.



A Có van đi tắt

B Không có van đi tắt

1 Van

2 Xylanh
3 Van đi tắt
4 Sáp
5 Van xả khí 

Nguồn : oto-hui.com (Theo nguồn từ tài liệu đào tạo toyota)

Hệ thống nhiên liệu - Động cơ xăng

Hệ thống nhiên liệu cung cấp nhiên liệu đến động cơ. Ngoài ra, nó còn có chức năng loại bỏ những chất bẩn và bụi cũng như điều chỉnh việc cung cấp nhiên liệu.




Theo hình vẽ trên
1 Bình nhiên liệu
Một bình dùng để lưu trữ nhiên liệu
2 Bơm nhiên liệu
Bơm nhiên liệu từ bình chứa đến động cơ.
3 Lọc nhiên liệu
Nó bao gồm có một phần tử lọc để loại bỏ các chất bẩn trong nhiên liệu.
4 Bộ điều áp nhiên liệu
Điều chỉnh áp suất nhiên liệu luôn ở một giá trị tối ưu, đảm bảo việc phun nhiên liệu ổn định.
5 Vòi phun
Phun nhiên liệu vào đường ống nạp cho các xi lanh tương ứng.
6 Nắp bình nhiên liệu
Đậy kín bình nhiên liệu. Có gắn một van để giữ cho áp suất trong bình không đổi.






Bơm Nhiên Liệu
Bơm nhiên liệu từ bình nhiên liệu đến động cơ, do đó cho phép ống nhiên liệu giữ được một áp suất nhất định.
Có loại bơm trong bình được đặt bên trong bình nhiên liệu và loại bơm trên đường ống đặt ở giữa đường ống dẫn.
Có nhiều cách dẫn động bơm nhiên liệu khác nhau; Hệ thống EFI (Phun nhiêu liệu điện tử) dùng bơm có môtơ dẫn động bằng điện.
  • Loại điện:
    Bơm trong bình (loại tuabin)
    Bơm trên đường ống (loại rôto)



1 Môtơ
2 Cánh bơm loại tuabin

Lọc Nhiên Liệu


Loại bỏ tạp chất ra khỏi nhiên liệu.
Để ngăn không cho chúng đến các vòi phun, một giấy lọc được dùng để loại bỏ tạp chất.
Bộ lọc nhiên liệu phải được thay thế một cách định kỳ.




1 Lọc nhiên liệu (Loại liền khối)
2 Cụm bơm nhiên liệu
Bộ Điều Áp Nhiên Liệu

Điều chỉnh áp suất nhiên liệu đến một áp suất nhất định, do vậy việc cung cấp nhiên liệu luôn được ổn định. 

 



1 Bộ điều áp nhiên liệu
2 Cụm bơm nhiên liệu
 
Nguồn : oto-hui.com (Theo nguồn từ tài liệu đào tạo toyota)
 

Động cơ xăng cơ bản (phần 4) - Hệ thống nạp



Hệ thống nạp Động cơ xăng
1 Lọc khí
2 Cổ họng gió
3 Đường ống nạp
Bộ Lọc Khí
Lọc khí có chứa phần tử lọc để loại bỏ bụi và các tạp chất khác ra khỏi không khí trong khi đưa không khí bên ngoài vào trong động cơ.




Phần tử lọc phải được làm sạch hay thay thế theo chu kỳ.





1 Phần tử lọc

2 Vỏ lọc khí

  • Các loại phần tử lọc khí


1
Loại giấy
Loại này được sử dụng rộng rãi trên ôtô.
2 Loại vải
Loại này bao gồm phần tử bằng vải sợi có thể rửa được.
3 Loại cốc dầu
Là loại ướt có chứa một cốc dầu
  • Các loại lọc khí
1. Lọc khí sơ bộ
Dùng lực ly tâm của không khí tạo ra bằng chuyển động quay của các cánh để tách bụi ra khỏi không khí.
Bụi sau đó được đưa đến cốc hứng bụi còn không khí được gửi đến lọc khí khác 
 

 

2. Lọc khí loại bể dầu
Không khí đi qua phần tử lọc khí chế tạo bằng sợi kim loại, được ngâm trong dầu tích trữ bên dưới của vỏ lọc khí.




 

3. Lọc khí loại xoáy
Loại bỏ các hạt như cát thông qua lực ly tâm của dòng xoáy không khí tạo ra bằng các cánh và giữ lấy các hạt bụi nhỏ bằng phần tử lọc khí bằng giấy


Cổ Họng Gió

Bướm ga dùng một dây cáp để hoạt động thống nhất với bàn đạp ga đặt bên trong xe, để điều khiển lượng hỗn hợp không khí - nhiên liệu hút vào trong xylanh.


Khi đạp chân ga, bướm ga mở ra để hút một lượng lớn không khí và nhiên liệu, kết quả là công suất phát ra của động cơ tăng lên.


Có một ISCV (van điều khiển tốc độ không tải) để điều khiển lượng khí nạp trong quá trình chạy không tải hay khi động cơ lạnh.





1 Bàn đạp ga


2 Cáp bướm ga


3 Bướm ga


4 ISCV


ISCV (Van điều khiển tốc độ không tải)

ISCV điều khiển lượng khí nạp chạy qua khoang đi tắt bố trí ở bộ phận bướm ga, nhằm thường xuyên điều khiển tốc độ không tải ở mức tối ưu nhất.




1 ISCV


2 Cổ họng gió


3 Bướm ga


4 Khoang đi tắt


Các loại ISCV


 

1 Loại môtơ bước
Loại van này điều chỉnh lượng không khí chạy qua khoang đi tắt.


Điều này được thực hiện bằng một van nằm ở đầu của rôto, van này chuyển động qua lại theo chuyển động của rôto.

2 Loại cuộn dây quay

Van này điều khiển lượng không khí nạp bằng cách thay đổi góc mở của van. Điều này được thực hiện bằng cách thay đổi khoảng th ời gian điện áp cấp đến 2 cuộn dây.

Đường Ống Nạp

Đường ống nạp bao gồm một vài ống dùng để cung cấp không khí đến từng xylanh.



  Nguồn : oto-hui.com (Theo nguồn từ tài liệu đào tạo toyota)

Động cơ xăng cơ bản (phần 3) - Cơ cấu phát lực (tiếp)

Phần này chúng ta sẽ tìm hiểu từng chi tiết trong cơ cấu sinh lực của động cơ xăng

Nắp quy lát
Các chi tiết cùng với píttông tạo nên buồng cháy ở phần lõm phía bên dưới nắp quylát.

Thân máy
Các chi tiết tạo nên kết cấu cơ bản của động cơ. Để làm động cơ hoạt động êm, người ta sử dụng một số xylanh.



1 Nắp quylát

2 Gioăng
3 Thân máy
 
Bố trí các xylanh
Người ta thường sử dụng các cách bố trí xylanh như sau:



1 Loại thẳng hàng

Đây là loại thông dụng nhất, với loại này các xylanh được bố trí thành một hàng.
 
2 Loại chữ V
Các xylanh được bố trí thành hình chữ V. Động cơ được rút ngắn lại so với loại thẳng hàng nếu có cùng số xylanh.
3 Loại đối đỉnh nằm ngang

Các xylanh được bố trí đối diện nhau theo chiều ngang, với trục khuỷu nằm ở giữa. Mặc dù bề ngang của động cơ trở nên lớn hơn, nhưng chiều cao của nó lại giảm đi.
Số xylanh

Để giảm đến mức thấp nhất rung động do chuyển động thẳng đứng của píttông, và mang lại sự êm dịu khi xe chuyển động, một động cơ có nhiều xylanh.

Thông thường, nếu số lượng xylanh lớn, động cơ sẽ quay êm hơn, và sẽ ít rung động hơn. Động cơ thẳng hàng thường có 4 hay 6 xylanh, động cơ chữ V có 6 hay 8 xylanh.

 
Một động cơ xăng 4 kỳ:
Trong một động cơ 4 xylanh, 4 lần nổ xảy ra trong mỗi 2 vòng quay của trục khuỷu.
Trong một động cơ 8 xylanh, diễn ra 8 lần nổ.
Để làm cho động cơ chạy êm, phải xác định được thứ tự nổ cơ bản cho các xylanh, tuỳ theo số lượng của chúng.
Píttông, trục khuỷu và bánh đà
 
Píttông
Píttông chuyển động thẳng đứng bên trong xylanh, do áp suất được tạo ra bởi sự cháy của hỗn hợp không khí - nhiên liệu.
 
Trục khuỷu
Trục khuỷu biến chuyển động thẳng của píttông thành chuyển động quay thông qua thanh truyền.
 
Bánh đà
Bánh đà được chế tạo ở dạng một đĩa thép nặng, biến chuyển động quay của trục khuỷu thành quán tính. Do đó, nó có thể tạo ra lực chuyển động quay ổn định.



1 Píttông

2 Chốt píttông
3 Thanh truyền
4 Trục khuỷu
5 Bánh đà

Đai dẫn động

Đai dẫn động truyền năng lượng chuyển động quay của trục khuỷu đến máy phát, bơm trợ lực lái và máy nén điều hoà thông qua các puly. Thông thường, một xe ôtô có 2 hay 3 dây đai.
Dây đai phải được kiểm tra độ căng và độ mòn, và phải được thay thế định kỳ.



1 Puly trục khuỷu

2 Puly bơm trợ lực lái
3 Puly máy phát
4 Puly bơm nước
5 Puly máy nén điều hoà
 
Hệ thống dẫn động đai uốn khúc
Hệ thống dẫn động đai uốn khúc sử dụng một đai chữ V nhiều gân để dẫn động mát phát, bơm nước, bơm trợ lực lái hay máy nén điều hoà.
So sánh với dây đai thông thường, nó đem lại những đặc điểm sau:
  • Làm giảm chiều dài của động cơ.
  • Giảm số lượng các chi tiết.
  • Giảm trọng lượng.


1 Đai nhữ V nhiều gân , 2 Puly trục khuỷu ,3 Puly căng đai (bộ căng đai tự động) ,4 Puly bơm trợ lực lái , 5 Puly máy phát , 6 Puly bơm nước ,7 Puly máy nén điều hoà

Cácte dầu


Đây là nới chứa dầu, nó được làm bằng thép hay nhôm. Cácte dầu có những hốc sâu và tấm ngăn để sao cho khi xe bị nghiêng, vẫn có đủ dầu ở dưới đáy cácte.





1 Cácte dầu số 1


2 Cácte dầu số 2


A Cácte dầu không có tấm ngăn


B Cácte dầu có các tấm ngăn

Cơ cấu phối khí

Cơ cấu phối khí là một nhóm các bộ phận mở và đóng các xupáp nạp và xả trong nắp quylát tại thời điểm thích hợp.



1 Trục khuỷu


2 Đĩa xích cam


3 Xích cam


4 Trục cam nạp


5 Xupáp nạp


6 Trục cam xả


7 Xupáp xả


* Trong hình vẽ là cơ cấu phối khí VVT-i

Các loại cơ cấu phối khí

Có nhiều loại cơ cấu phối khí khác nhau, tuỳ theo vị trí và số lượng trục cam.




A DOHC (Trục cam kép đặt trên)

Loại này bao gồm 2 trục cam, và mỗi trục cam dẫn động trực tiếp các xupáp, đảm bảo chuyển động chính xác của các xupáp.

B
DOHC loại gọn
Loại này bao gồm 2 trục cam, trong đó một trục cam được vận hành bằng một bộ bánh răng. Cấu tạo của nắp quylát đơn giản hơn và gọn hơn so với kiểu DOHC thông thường.


1 Dây đai cam


2 Bánh răng cắt kéo


3 Trục cam



C OHC (trục cam đặt trên)

Loại này dùng 1 trục cam để vận hành tất cả các xupáp thông qua cò mổ.

D OHV (Xupáp treo)


Loại này có một trục cam bên trong thân máy và cần có đũa đẩy và cò mổ để mở và đóng các xupáp.


1 Dây đai cam


2 Trục cam


3 Đũa đẩy


4 Cò mổ


Xích cam

Xích này truyền chuyển động quay của trục khuỷu đến các trục cam.







1 Xích cam


2 Đĩa xích trục cam


3 Đĩa xích trục khuỷu

Dây đai cam

Cũng giống như bánh răng, dây đai này gồm có các răng để ăn khớp với các răng của các puly cam.


Để dùng trong ôtô, dây đai này được chế tạo bằng vật liệu gốc cao su.


Dây đai cam phải được kiểm tra độ căng thích hợp và độ mòn, cũng như phải thay thế định kỳ.




1 Dây đai cam


2 Puly trục cam


3 Puly trục khuỷu

Hệ thống VVT-i (Điều khiển thời điểm phối khí - thông minh)
Hệ thống VVT-i sử dụng một máy tính để điều khiển tối ưu hoá thời điểm mở và đóng của xupáp nạp tương ứng với tình trạng của động cơ.


Hệ thống này sử dụng áp suất thuỷ lực để thay đổi thời điểm đóng và mở của xupáp nạp, kết quả là nâng cao hiệu quả nạp, mômen, công suất phát ra, tính kinh tế nhiên liệu và làm sạch khí xả.


Ngoài hệ thống VVT-i, còn có hệ thống VVTL-i (điều khiển thời điểm phối khí và hành trình xupáp - thông minh), nó làm tăng độ nâng (hành trình) của xupáp và cải thiện hiệu quả nạp ở tốc độ vòng quay lớn.

 
  Nguồn : oto-hui.com